Nghị quyết hướng dẫn luật hôn nhân gia đình

      223
MỤC LỤC VĂN BẢN
*

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO ********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ********

Số: 01/NQ-HĐTP

Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 1988

NGHỊ QUYẾT

CỦAHỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 01/NQ-HĐTP NGÀY 20 THÁNG 01 NĂM1988 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Hướng dẫn các Toà án nhân dânáp dụng một số quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình như sau:

1. Huỷ việc kếthôn trái pháp luật (Điều 9).

Bạn đang xem: Nghị quyết hướng dẫn luật hôn nhân gia đình

Theo điều 9, Toà án nhân dân cóquyền huỷ những việc kết hôn vi phạm các điều 5, 6, 7 Luật Hôn nhân và gia đìnhkhi có yêu cầu của "một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồnghoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểmsát nhân dân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh, Công đoàn Việt Nam".

Huỷ việc kết hôn trái pháp luậtnhằm bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng có hậu quảrất lớn đối với cuộc sống của hai người và con cái của họ. Do đó, Toà án phảiđiều tra về nguyên nhân, hoàn cảnh việc kết hôn trái pháp luật, cuộc sống chungtừ khi xin kết hôn đến khi xin huỷ việc kết hôn v.v... và phải cân nhắc rất thậntrọng. Phương hưởng xử lý như sau:

a. Đối với những trường hợp chưađủ tuổi kết hôn vi phạm Điều 5.

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18tuổi trở lên mới được kết hôn.

Nếu kết hôn chưa đủ tuổi như quyđịnh của Điều 5 mà có yêu cầu của những người quy định trong Điều 9 thì Toà ánxử huỷ việc kết hôn.

Nếu do kết hôn chưa đủ tuổi màcuộc sống của hai bên không có hạnh phúc, đến khi họ đã đủ tuổi kết hôn mới cóyêu cầu chấm dứt hôn nhân thì Toà án cũng huỷ việc kết hôn. Trái lại, nếu haibên đã chung sống bình thường, đã có con và tài sản chung, sau đó mới phát sinhmâu thuẫn thì không máy móc xử huỷ việc kết hôn mà áp dụng Điều 40 (ly hôn) đểxét xử.

b. Đối với những trường hợp bịcưỡng ép hoặc bị lừa dối khi kết hôn vi phạm Điều 6.

Bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối khikết hôn đều là trái với nguyên tắc tự nguyện kết hôn. Vì vậy, Toà án xử huỷ việckết hôn. Tuy nhiên, nếu khi kết hôn có bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối, nhưng sauđó vợ chồng đã thông cảm với nhau, chung sống hoà thuận thì một bên hoặc haibên có nhu cầu chấm dứt hôn nhân, Toà án áp dụng Điều 40 (ly hôn) để xét xử chứkhông huỷ việc kết hôn, trừ trường hợp người đang có vợ hoặc có chồng nhưng đãnói dối là chưa có để kết hôn với người khác thì phải huỷ việc kết hôn đó.

c. Đối với những trường hợp viphạm Điều 7

Điều 7 cấm kết hôn trong nhữngtrường hợp sau đây:

- Đang có vợ hoặc có chồng;

- Đang mắc bệnh tâm thần khôngcó khả năng nhận thức hành vi của mình, đang mắc bệnh da diễu;

- Giữa những người cùng dòng máuvề trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng mẹ khác cha, hoặc cùng cha khác mẹ;giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;

- Giữa cha, mẹ nuôi với connuôi.

(Cùng dòng máu về trực hệ là chamẹ với con cái; ông bà với cháu nội, cháu ngoại; có họ trong phạm vi ba đờitính như sau: đối với người cùng một gốc sinh ra thì cha mẹ là đời thứ nhất;anh em là đời thứ hai; con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì, con già đờithứ ba).

Đối với hôn nhân vi phạm mộttrong các trường hợp của Điều 7 mà có người yêu cầu huỷ việc kết hôn thì nóichung Toà án phải xử huỷ việc kết hôn. Riêng đối với trường hợp đang có vợ, cóchồng mà lấy người khác thì cần chú ý:

- Cá biệt nếu có trường hợp vợchồng chưa ly hôn xong nhưng một bên đã đi lấy người khác. Nếu xét thấy hônnhân trước trong thực tế đã không còn tồn tại, hai bên không thể đoàn tụ được nữamà một bên hoặc hai bên đã xin ly hôn thì mặc dầu hôn nhân sau là không hợppháp, nhưng không máy móc huỷ việc kết hôn sau mà có thể chỉ xử ly hôn đối vớihôn nhân trước.

Hậu quả của việc huỷ kết hôntrái pháp luật là hai bên không được duy trì quan hệ vợ chồng nữa, tài sảnriêng của ai thì người đó lấy về và tài sản chung được chia theo sự đóng góp củamỗi bên. Trong trường hợp kết hôn trái pháp luật là do một bên bị cưỡng ép hoặcbị lừa dối thì người bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối có thể yêu cầu Toà án giải quyếtquyền lợi của họ (chia tài sản chung, cấp dưỡng...) như khi ly hôn.

d. Xử lý về hình sự những trườnghợp kết hôn trái pháp luật.

Bộ luật hình sự đã quy định tộicưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 143), tội vi phạmchế độ một vợ, một chồng (Điều 141) và tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều145). Vì vậy, trong những trường hợp đã cấu thành những tội này, Viện kiểm sátnhân dân có quyền khởi tố hoặc Toà án nhân dân có thể chuyển hồ sơ để yêu cầuViện kiểm sát khởi tố. Khi Toà án xét xử về hình sự thì ngoài việc quyết địnhhình phạt đối với bị cáo, cần phải tuyên rõ trong bản án là huỷ việc kết hôntrái pháp luật. Nếu sau đó hai bên còn tranh chấp về con cái hoặc tài sản thìToà án sẽ giải quyết những vấn đề này theo thủ tục về dân sự.

2. Trường hợpkết hôn vi phạm Điều 8

Điều 8 quy định: "Việc kếthôn do UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hônghi nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định..."

Trong thực tế vẫn có không íttrường hợp kết hôn không có đăng ký. Việc này tuy có vi phạm về thủ tục kết hônnhưng không coi là việc kết hôn trái pháp luật, nếu việc kết hôn không trái vớicác điều 5, 6, 7. Trong những trường hợp này, nếu có một hoặc hai bên xin lyhôn, Toà án không huỷ việc kết hôn theo Điều 9 mà xử như việc xin ly hôn theoĐiều 40.

3. Chế độ tàisản vợ chồng (các Điều 15, 16, 17, 18 và 42).

a. Tài sản chung và tài sảnriêng của vợ chồng.

Điều 14 và Điều 15 đã quy địnhchế độ tài sản của vợ chồng và Điều 16 quy định về tài sản riêng của mỗi bên.

Tài sản chung của vợ chồng bao gồmcác khoản thu nhập như sau:

- Tiền lương, tiền thưởng, tiềntrợ cấp, tiền hưu trí, tiền thu nhập về sản xuất ở gia đình và các thu nhập hợppháp khác của vợ chồng, không phân biệt mức thu nhập của mỗi bên;

- Các tài sản mà vợ chồng mua sắmđược bằng những thu nhập nói trên;

- Tài sản mà vợ chồng được chohoặc được thừa kế chung.

Tài sản được sử dụng để đảm bảonhững nhu cầu trong gia đình, do đó, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc quảnlý tài sản đó. Vợ hoặc chồng sử dụng tài sản chung của gia đình được đươngnhiên coi là sự thoả thuận của hai vợ chồng. Nhưng việc mua, bán, cho hoặc vay,mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản có giá trị lớn (như: nhà ở,gia súc chăn nuôi như trâu, bò, tư liệu sinh hoạt có giá trị lớn như máy thuhình, tủ lạnh, xe máy v.v...) thì phải có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng. Nếulà việc mua, bán, cầm cố tài sản mà pháp luật quy định phải có hợp đồng viết(như việc mua, bán nhà) thì vợ và chồng đều phải ký vào hợp đồng và nếu chỉ cómột bên ký thì phải có sự uỷ nhiệm của vợ, chồng cho mình ký thay.

Tài sản riêng của vợ chồng (nếucó) bao gồm:

- Tài sản có trước khi kết hôn;

- Tài sản được cho riêng hoặc đượcthừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Những món nợ của vợ chồng vaytrước khi kết hôn hoặc vay trong thời kỳ hôn nhân mà không phải vì nhu cầu củagia đình thì vợ, chồng thanh toán bằng tài sản riêng. Nếu tài sản riêng không đủthì thanh toán bằng phần tài sản của người đó trong tài sản chung hoặc vợ chồngcó thể thoả thuận thanh toán bằng tài sản chung.

b. Chia tài sản của vợ chồng khily hôn, khi một bên chết hoặc một bên yêu cầu chia tài sản khi hôn nhân còn tồntại

Chia tài sản khi ly hôn (Điều42):

Khi vợ chồng ly hôn, tài sảnchung được chia đôi nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản,tình hình cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên. Do đó, cần chúý các trường hợp dưới đây:

- Đồ trang sức mà người vợ hoặcngười chồng được cha mẹ vợ hoặc chồng tặng cho riêng trong ngày cưới là tài sảnriêng, nhưng nếu những thứ đó được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựngcho vợ chồng một số vốn thì coi là tài sản chung. Khi chia tài sản chung, nhữngtrang sức có giá trị không lớn so với tài sản chung thì chia cho người đang sửdụng;

- Trong trường hợp vợ chồng cònsống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định đượcthì vợ chồng được chia một phần trong khối tài sản của gia đình, căn cứ vàocông sức mà người đó đã đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sảnchung và đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như laođộng sản xuất;

- Con cái đã thành niên, có đónggóp đáng kể vào việc xây dựng và phát triển tài sản của cha mẹ thì được tríchchia phần đóng góp của họ trong tài sản của cha mẹ khi cha mẹ ly hôn;

- Khi chia tài sản, phải bảo vệquyền lợi của người vợ và của con cái chưa thành niên, đồng thời phải bảo vệ lợiích của sản xuất và lợi ích về nghề nghiệp của mỗi bên.

Tài sản riêng của ai thì ngườiđó được lấy về, nhưng người có tài sản riêng phải chứng minh tài sản đó là tàisản riêng của mình. Việc chứng minh có thể thực hiện bằng sự công nhận của bênkia, bằng các giấy tờ (văn tự, di chúc...) và bằng các chứng cứ khác. Nếu khôngchứng minh được là tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung.

Tài sản chung và tài sản riêngchỉ chia trên cơ sở những thứ hiện có. Những thứ đã chi dùng cho gia đình màkhông còn nữa thì không phải thanh toán.

Chia tài sản khi có một bên chết(Điều 17):

Trong trường hợp một bên chếttrước mà để lại di chúc chia di sản cho người thừa kế hoặc những người thừa kếtheo luật của người đó yêu cầu chia di sản ngay thì tài sản chung của vợ chồngđược chia đôi. Phần của người chết được chia theo pháp luật về thừa kế. Vợ chồngcó quyền thừa kế tài sản của nhau. Trong trường hợp không cần chia thừa kế ngaythì người vợ hoặc chồng còn sống quản lý tài sản của người chết để lại.

Chia tài sản khi hôn nhân còn tồntại (Điều 18):

Trong khi hôn nhân còn tồn tại,Điều 18 cho phép chia tài sản của vợ chồng nếu có lý do chính đáng (như: vợ chồngtính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ởriêng, do đó, một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chianhư khi xử về ly hôn).

4. Nghĩa vụ vàquyền của cha mẹ và con cái (các Điều 23, 24, 25, 26).

a. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹđối với tài sản của con (các Điều 23 và 24).

Xem thêm: Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao 4: Hy Vọng Mới (Star Wars: Episode Iv

Con chưa thành niên có quyền cótài sản riêng như: tài sản được thừa kế, thu nhập bằng lao động hoặc thu nhập hợppháp khác v.v... Người chưa thành niên chưa có năng lực hành vi thực hiện nhữngquyền và nghĩa vụ về tài sản, cho nên cha mẹ là người đại diện cho con trướcpháp luật và quản lý tài sản của con.

Trong việc quản lý tài sản củacon, cha mẹ có nghĩa vụ giữ gìn và sử dụng hợp lý tài sản của con. Những việcmua, bán, cầm cố... tài sản của con phải vì lợi ích của con. Tuy nhiên, nếu conđã từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì phải có sự đồng ý của con, cha mẹ mới đượcmua, bán, cầm cố tài sản của con do mình quản lý.

b. Trách nhiệm bồi thường thiệthại do hành vi trái pháp luật của con chưa thành niên gây ra (Điều 25).

Xuất phát từ yêu cầu là phải bảođảm quyền lợi của người bị thiệt hại và trách nhiệm của cha mẹ là phải giáo dục,quản lý con chưa thành niên, nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vitrái pháp luật của con chưa thành niên gây ra như sau:

- Về nguyên tắc, cha mẹ chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổigây ra. Tuy nhiên, nếu con có tài sản riêng mà cha mẹ không có khả năng bồi thườngđầy đủ hoặc không có khả năng bồi thường thì lấy tài sản của con để bồi thườngcho đủ.

- Con chưa thành niên từ 16 đến18 tuổi mà có tài sản riêng thì phải bồi thường thiệt hại do hành vi trái phápluật của mình gây ra bằng tài sản riêng. Nếu tài sản riêng của con không đủ đểbồi thường hoặc không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường cho đủ.

Con đã thành niên mà có hành vitrái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì con phải bồi thường, cha mẹkhông có trách nhiệm bồi thường cho con. Nếu con còn ở chung với cha mẹ có đónggóp vào tài sản chung của gia đình thì phần đóng góp đó được coi là tài sản củacon, được trích ra để bồi thường. Tuy nhiên, nếu con đã thành niên nhưng khôngcó năng lực hành vi như mắc bệnh tâm thần mà cha mẹ có trách nhiệm trông giữthì cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con gây ra.

Người chưa thành niên dưới 16 tuổigây thiệt hại cho người khác thì cha mẹ là bị đơn, nhưng Toà án có thể hỏi ngườichưa thành niên để điều tra.

Người chưa thành niên từ 16 tuổiđến dưới 18 tuổi chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình thì họlà bị đơn, nhưng cha mẹ phải được tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợppháp của bị đơn. Nếu tài sản của con không đủ để bồi thường thì cha mẹ là đồngbị đơn, nếu con không có tài sản thì cha mẹ là bị đơn.

c. Những trường hợp không chocha mẹ trông giữ, giáo dục, quản lý tài sản của con, đại diện cho con (Điều26).

Toà án chỉ có quyết định về vấnđề này khi cha mẹ bị xử phạt về tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm củacon chưa thành niên. Tội phạm thực hiện đối với người con nào thì chỉ tước nhữngquyền này của cha mẹ đối với người con đó. Tuy nhiên đây không phải là biệnpháp bắt buộc, do đó, việc áp dụng phải rất hạn chế và chỉ thực hiện khi cần phảingăn chặn cha, mẹ tiếp tục xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của con vàngười con chưa thành niên có thể được giao cho một người khác trong gia đình hoặctổ chức xã hội trông nom, giáo dục. Nếu người con chưa thành niên đã có khảnăng nhận thức (như đã 14-15 tuổi) thì Toà án cũng cần phải căn cứ vào cả ý kiếncủa con về việc có cần phải tước một số quyền của cha mẹ đối với con không.

Thời gian tước các quyền nóitrên là từ 1 đến 5 năm, nhưng nếu người có lỗi đã sửa chữa thì Toà án có thểrút ngắn thời hạn đó.

5. Xác địnhcha, mẹ cho con (các Điều 28, 29, 30, 31, 32, 33).

a. Trong những trường hợp cha hoặcmẹ xin nhận con hoặc không nhận con thì phải xác định ai là cha, là mẹ của đứatrẻ.

Trong thực tế có những trường hợphai bên đã có quan hệ sinh lý trước khi kết hôn, cho nên không thể cho rằng chỉcó đứa trẻ sinh ra trong thời gian 180 ngày đến 300 ngày sau khi kết hôn mới làcon của vợ chồng. Vì vậy, Điều 28 chỉ quy định: "con sinh ra trong thời kỳhôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứkhác". (Thí dụ: người vợ công nhận là mình có thai với người khác trướckhi kết hôn; người chồng chứng minh rằng mình đã đi công tác xa trong thời gianmà vợ có thể có thai đứa trẻ v.v...).

Trường hợp người phụ nữ chưa cóchồng mà sinh con (còn ngoài giá thú) nhưng cha của đứa trẻ không nhận con, thìphải căn cứ vào những chứng cứ về người đó có thai với ai.

Trường hợp người mẹ sinh conngoài giá thú đã bỏ con, người khác đã nhận đứa trẻ về nuôi, nhưng sau này ngườimẹ xin nhận con thì người mẹ phải chứng minh là mình đã đẻ ra đứa trẻ. Nếu cótranh chấp về việc nuôi đứa trẻ thì Toà án phải xuất phát từ lợi ích của đứa trẻvà phải quan tâm đến quyền lợi của người đã nuôi đứa trẻ mà xem xét ai là ngườicó điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục đứa trẻ tốt hơn. Nếu đứa trẻ đã nhận thức đượcthì cần phải hỏi ý kiến của nó.

Con ngoài giá thú có quyền xinnhận cha, mẹ, kể cả trường hợp cha mẹ đã chết.

b. Đối với những quyền về nhânthân như: xin xác định cha, mẹ cho mình; xin huỷ việc làm con nuôi vì đã bị ngượcđãi v.v..., thì người chưa thành niên từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tựmình đứng nguyên đơn. Nếu dưới 16 tuổi thì phải có cha, mẹ là người đại diện hợppháp của họ (trừ trường hợp cha mẹ là người mà người chưa thành niên yêu cầuxác định là cha, là mẹ của họ), hoặc phải có Viện kiểm sát nhân dân, Hội Liênhiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Namkhởi tố.

Người chưa thành niên từ 16 đếndưới 18 tuổi bị xác định là cha của một đứa trẻ thì họ là bị đơn. Cha mẹ củangười chưa thành niên phải được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diệnhợp pháp của con. Nếu Toà án xác định người chưa thành niên là cha của đứa trẻthì cha mẹ của người chưa thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc làm nhiệm vụ cấpdưỡng cho đứa trẻ.

Khi tham gia tố tụng, người đạidiện hợp pháp của người chưa thành niên có những quyền và nghĩa vụ trong tố tụngnhư người mà mình đại diện.

Trong trường hợp xin xác định mộtngười đã chết là cha, mẹ mình thì trong việc này chỉ có nguyên đơn mà không cóbị đơn, nhưng vợ, chồng và con cái của người đã chết được tham gia tố tụng vớitư cách người dự sự.

6. Nuôi connuôi (các Điều 34, 35, 36, 37, 38, 39)

a. Những điều kiện về nuôi connuôi đã được quy định trong các Điều 34, 35, 36 và 37 nhưng trước khi Luật nàyđược ban hành thì những điều kiện đó chưa được quy định đầy đủ. Vì vậy, nhữngviệc nuôi con nuôi trước khi ban hành Luật mới vẫn có giá trị pháp lý, trừ nhữngtrường hợp nuôi con nuôi trái với mục đích xã hội của việc nuôi con nuôi (như:nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động hoặc để dùng con nuôi vào những hoạt độngxấu xa, phạm pháp). Nếu việc nuôi con nuôi trước đây chưa được ghi vào sổ hộ tịchnhưng việc nuôi con nuôi đã được mọi người công nhận và cha mẹ nuôi đã thực hiệnnghĩa vụ với con nuôi thì việc nuôi con nuôi vẫn có những hậu quả pháp lý do luậtđịnh.

Nếu đứa trẻ đã làm con nuôi ngườikhác mà cha mẹ đòi lại con thì Toà án cần xuất phát từ lợi ích của đứa trẻ màxem xét ai là người có điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục và bồi dưỡng đứa trẻthành công dân có ích cho xã hội. Nếu đứa trẻ đã nhận thức được, thì cũng cần hỏicả ý kiến của nó. Nếu hai bên chỉ vì xích mích mà phát sinh ra việc đòi con thìphải giải quyết xích mích đó.

b. Theo Điều 34 thì giữa ngườinuôi và con nuôi có những quyền và nghĩa vụ như con đẻ. Do đó, con nuôi được thừakế tài sản của cha mẹ nuôi và cha mẹ nuôi được thừa kế tài sản của con nuôi. Đốivới cha mẹ đẻ thì người con nuôi không còn thuộc hàng thừa kế theo luật của chamẹ đẻ nữa, trừ trường hợp họ được thừa kế theo di chúc của cha mẹ đẻ hoặc đượcnhững người thừa kế theo luật bằng lòng cho họ hưởng một phần di sản của ngườichết.

c. Theo Điều 39 thì Toà án quyếtđịnh chấm dứt việc nuôi con nuôi trong những trường hợp sau đây:

+ Cha mẹ nuôi đã không thực hiệnđúng mục đích, ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi (như: nuôi con nuôi nhằm mụcđích bóc lột sức lao động của con nuôi; cha mẹ nuôi dùng con nuôi vào những hoạtđộng xấu xa như trộm cắp, mãi dâm...; hoặc cha mẹ nuôi có những hành vi nghiêmtrọng, xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con nuôi như ngược đãi, hành hạ nghiêmtrọng con nuôi...). Trong những trường hợp này Toà án quyết định huỷ việc nuôicon nuôi theo yêu cầu của người con nuôi, nhưng nếu người con nuôi chưa thànhniên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi, Viện kiểm sát nhândân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Côngđoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc nuôi con nuôi.

+ Con nuôi đã có những hành vinghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của cha mẹ nuôi hoặc có những hành vikhác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa. Thí dụ: đánhchửi người nuôi hoặc cha mẹ, ông bà của người nuôi. Tuy nhiên, khi xử lý cũng cầnphải có sự phân biệt giữa người con nuôi đã thành niên và con nuôi chưa thànhniên.

- Nếu người con nuôi đã thànhniên mà có những hành vi nói trên đối với cha mẹ nuôi hoặc không chịu lao độngmà chỉ ăn bám vào cha mẹ nuôi, làm cho cha mẹ nuôi không thể chịu đựng được,thì huỷ bỏ việc nuôi con nuôi;

- Nếu người con nuôi chưa thànhniên thì nói chung phải giáo dục để người đó sửa chữa những lỗi lầm đối với chamẹ nuôi. Chỉ huỷ việc nuôi con nuôi nếu người đó có người khác nuôi dưỡng (nhưcha mẹ đẻ, hoặc những người thân thuộc khác). Nếu họ không có người khác nuôidưỡng thì cha mẹ nuôi phải giáo dục con nuôi, Toà án không huỷ việc nuôi connuôi.

Khi việc nuôi con nuôi chấm dứtthì những quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa cha mẹ nuôi với con nuôi cũng chấm dứt.

Bản án của Toà án về chấm dứt nuôicon nuôi phải được thông báo cho Uỷ ban nhân dân ở cơ sở để ghi vào sổ hộ tịch.